Chào mừng quý vị ghé thăm website Giáo Phận Thanh Hóa - Liên hệ điện thoại : 037 3853 138 - Email : gpthanhhoa@gmail.com

  ›   TGM - TH   ›   Suy niệm Chúa nhật

CN II PS - B: Tiếp cận với Đức Kitô Phục sinh để tin

cập nhật: (12/04/2012, 09:59 pm)    Lượt xem: 586


Ai trong chúng ta cũng biết kiến thức có được nhờ cố gắng học hỏi. Thành quả của công việc gặt hái được nhờ vốn liếng và công sức bỏ ra. Cũng không phải tự dưng trở thành thiên tài mà hầu hết đều phải trải qua thời gian dài thao luyện... Đời sống đức tin của người kitô hữu cũng gần giống như vậy, một chút khác biệt chỉ là cách tiếp cận với lãnh vực vô hình của từng người trong giai đoạn đầu tựa như kinh nghiệm riêng của mỗi người về phương pháp học ngoại ngữ của mình: viết, nhìn, lặp lại, đọc, nghe….

 

Nội dung các bài đọc trong thánh lễ Chúa nhật tuần II Phục sinh giới thiệu 3 cách tiếp cận đức tin với Đấng Phục Sinh: tin nhờ đã được kiểm chứng như Tôma, nhờ mạc khải như Phaolô và nhờ nghe rao giảng như các tín hữu tiên khởi tại Giêrusalem.

 

  1. 1.    Tin nhờ được kiểm chứng

 

Sau khi thầy Giêsu đã bị giết, nhóm môn đệ của Người lo lắng, sợ sệt và thất vọng nhưng Người đã đến tỏ mình ra cho họ. Các môn đệ đã được xem thấy Chúa. Thánh Gioan cho biết họ “vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20, 20).

 

Các môn đệ thấy Chúa phục sinh hiện đến đứng giữa họ, thật gần gũi. Họ xác quyết với người anh em vắng mặt Toma rằng “Chúng tôi đã được thấy Chúa”. Có lẽ Toma không tin lời các anh em một phần vì ông là người đa nghi nhưng quan trọng hơn ông cũng muốn được bằng các anh em khác. Bức tranh 11 môn đệ nhưng lộ ra hai thái độ khác nhau: những kẻ đã thấy Đấng Phục sinh hiện ra và đã tin; đang khi Toma chưa thấy thì không tin. Ông tuyên bố thẳng thừng với các môn đệ khác: “Nếu tôi không thấy Người, nếu tôi không được xỏ ngón tay vào lỗ đinh nơi chân tay, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người thì tôi không tin” (Ga 20, 25).

 

Niềm tin của Toma như một lời thách thức Đấng Phục Sinh. Niềm tin của ông đang còn ở bậc thấp nhất bởi ông không tin lời của các anh em quả quyết nhưng đòi cho thấy tận mắt mới tin. Đức Giêsu đáp lại yêu cầu đó khi hiện đến lúc ông cùng ở đó với các môn đệ khác. Đức Kitô Phục sinh đã hiện ra giữa các môn đệ, cho các ông thấy vết thương ở tay và cạnh sườn - những dấu vết của cuộc thương khó mà Người đã chịu bởi tay người Dothái mấy ngày trước đó (x. Ga 19, 34). Vẫn những dấu vết của thứ sáu Tuần Thánh nhưng Người đã thực sự sống lại và hiện ra cho các ông được thấy tận mắt đang lúc cửa đóng then cài. Người bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20, 26-27). Toma cùng với các môn đệ khác, một lần nữa tất cả mọi người hiện diện đều “đã thấy và đã tin”. Đức Giêsu nói với ông: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20, 29). Và sau khi đã kiểm chứng, Toma chỉ còn biết kêu lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20, 28).

 

Cũng giống như Toma, nhiều kitô hữu đòi thấy được những can thiệp của Chúa nhãn tiền mới tin. Hoặc có tuyên xưng niềm tin đó nhưng đôi khi không chắc chắn. Mỗi khi ở trong “đêm tối của đức tin” chúng ta được mời gọi cầu nguyện nhiều để tiến thêm một bước nữa trong tiến trình tăng trưởng đời sống đức tin. Thiên Chúa có chương trình cho chúng ta như đã có chương trình cho thánh tông đồ Phaolô.

 

  1. 2.    Tin nhờ mạc khải từ trên

 

Thánh Phaolô là con người của “đạo cũ” chính hiệu. Sự nhiệt thành của ông làm cho nhiều tín đồ Dothái giáo kính nể và theo không nổi. Trước ngã rẽ của đức tin vào Đấng Phục Sinh, Phaolô chẳng theo thầy Giêsu và ở với Người ngày nào. Ông cũng chẳng được thụ huấn với thầy Giêsu như các tông đồ khác nhưng giáo thuyết của ông về Đức Giêsu thật phong phú và sâu sắc. Sau khi bị đánh gục bởi Đức Kitô phục sinh ngay lúc đang truy tìm bắt những kẻ theo “giáo thuyết mới” của ông Giêsu nào đó. Một khi đã trở lại ông nhiệt thành gấp bội để chỉ công bố một tin mừng Chúa Giêsu đã Phục sinh. Chính Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử (x. 1Tm 1, 11-16). Phaolô xác nhận “Thiên Chúa đã đặt tôi làm người rao giảng Tin Mừng đó, làm tông đồ và thầy dạy” (1Tm 1, 11).

 

Phaolô trực tiếp được Chúa Phục sinh mặc khải cho mọi chuyện. Tôi xin nói cho anh em biết: “Tin Mừng tôi loan báo không phải là do loài người. Vì không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Giêsu Kitô đã mặc khải” (Gl 1,11-12). Và sứ mạng của Phaolô là rao giảng cho dân ngoại: Đức Kitô đã dùng tôi mà thực hiện để đưa các dân ngoại về phục vụ Thiên Chúa (x. Rm 15, 18). Riêng đối với người môn đệ Timôthê, Phaolô khuyên như sau: “Anh hãy nhớ đến Đức Giêsu Kitô, Đấng đã sống lại từ cõi chết, Đấng đã xuất thân từ dòng dõi Đavít, như tôi vẫn nói trong Tin Mừng tôi loan báo” (1Tm 1, 8).

 

Theo thánh Phaolô muốn được sự sống đời, thì phải tin vào Thiên Chúa, tin vào Đức Giêsu Kitô, hay vào Tin Mừng của Người như một điều kiện bó buộc. Sinh thời Đức Giêsu đã quả quyết: “Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án”  (Mc 16, 16) nên Phaolô mạnh dạn viết: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ”  (Rm 10, 9).

 

Đức tin là ân huệ Chúa ban. Tin khác với thấy hoặc biết. Khi tin đòi người ta vượt qua những thực tại của vấn đề. Tin chỉ có ý nghĩa và đạt tới mức độ chin muồi khi đối tượng tin còn mù mờ, chưa sáng tỏ, nó vừa đòi hỏi lý trí nắm được một số chứng cứ để tin, vừa đòi hỏi ý chí chấp nhận một kết luận vượt khỏi giới hạn mà những chứng cứ ấy chứng tỏ. Muốn biết mức độ tin như thế nào ta hãy coi các việc làm cùng với thái độ của người tiếp nhận những lời rao giảng.

 

  1. 3.    Tin nhờ nghe rao giảng

 

Niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh không bị đóng khung một vài người hay một vài nơi nhưng được truyền lan từ người này sang người khác. Bắt đầu từ nhóm Mười Hai và các môn đệ tiên khởi sau đó đến cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi và các tín hữu lại tiếp tục thực hiện mệnh lệnh của Chúa Giêsu trước khi Người về trời. Tin Mừng Phục Sinh đã được loan báo, nhưng tiếp nhận tùy theo cách của mỗi người.

 

Sau bài giảng của các tông đồ số người xin trở lại rất đông. Họ trở tin và được trở thành “môn đệ” Đức Kitô nhờ nghe lời rao giảng. Các tín hữu tiên khởi và chúng ta ngày nay cũng giống nhau, đều có phúc vì “không thấy mà tin”. Người Kitô hữu là người không thấy Chúa nhưng vẫn tin: không thấy Chúa bằng mắt thịt nhưng thấy Chúa bằng con mắt đức tin, không thấy Chúa bằng giác quan, nhưng thấy Chúa bằng con tim nhạy cảm. Điều kỳ diệu cũng là một mầu nhiệm nơi người Kitô hữu đó là cả thấy rất hạnh phúc vì không thấy nhưng vẫn tin.

 

Mỗi Kitô hữu chúng ta chúng ta rất hạnh phúc vì chúng ta không được diễm phúc như các môn đệ nhìn thấy Chúa sống lại, nghe lời Chúa, cùng ăn cùng sinh hoạt với Chúa và ân cần ghi nhận những tâm sự, những nhắn nhủ của Chúa. Tất cả chúng ta chẳng ai thấy Đức Giêsu, chẳng ai thấy Người sống lại nhưng chúng ta tin điều ấy. Chúng ta tin vào lời chứng của các môn đệ, của Tôma, của sách Thánh, của Giáo Hội. Với ơn Chúa đánh động chúng ta tin rằng đó là điều đáng tin cậy bởi cũng niềm tin như chúng ta những lời chứng của các tông đồ và bao nhiêu chứng nhân tử đạo phải trả giá bằng máu, bằng mạng sống. Không nói gì khác: “Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng” (Cv 2, 32; x. 3, 15; 4, 33; 10, 39. 42; 13, 31).

 

Niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh là là nền tảng xây dựng cộng đồng tín hữu. Sống đức tin Phục Sinh sẽ sinh hoa kết trái nơi môi trường sống và có sức lôi cuốn người khác cùng tin. Cộng đồng Kitô hữu tiên khởi là tín hữu có tinh thần hiệp nhất thật tốt đẹp và không một chút chia rẽ. Đức tin đích thực không chỉ dừng lại ở lời nói nhưng biểu lộ qua việc làm - điều này đã được thể hiện ngay tại cộng đoàn tín hữu tiên khởi Giêrusalem. Hoa quả của niềm tin đó là “Mọi người đều sống hòa hợp, yêu thương và coi mọi sự là của chung”… “Mọi người đều sốt sắng dâng lời ca ngợi Chúa!...”. Sách Công vụ tông đồ ghi “các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung” (Cv 4, 32). Vì thế trong bài đọc II (1Ga 5, 1 - 6), thánh Gioan mời gọi chúng ta “hãy giữ vững đức tin, hãy hết lòng kính mến Chúa và thực hành các giới răn của Chúa”.

 

Kết:

 

Tin là chấp nhận. Muốn thấy, muốn nhận ra Chúa phục sinh, điều kiện tiên quyết nhất là phải có đức tin. Người nào tin mới thấy được và thấy rồi sẽ tin hơn… Thánh Gioan tông đồ xác nhận điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta: “Ai là kẻ thắng được thế gian, nếu không phải là người tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa?” (1Ga 5, 5).

 

Mặc dù chúng ta được tiếp cận đức tin theo cách thức nào thì chúng ta cũng không quên nghe theo lời khuyến cáo của thánh Phaolô “Bổn phận của chúng ta, những người có đức tin vững mạnh, là phải nâng đỡ những người yếu đuối, không có đức tin vững mạnh” (Rm 15, 1).

 

Mai Thi