CN IV TNC : Làm ngôn sứ cho Thiên Chúa
Cập nhật: 29.01.2010 10:13 | Đã đọc: 194
Một khi đã chấp nhận thi hành nhiệm vụ khó khăn nhưng vô cùng cao cả này, các ngôn sứ phải thẳng thắn công bố sứ điệp của Thiên Chúa cách trang trọng và công khai, đồng thời phải giảng giải những lời sấm, những sự huyền bí của thiên nhiên, những triết lý, hay những tư tưởng hoặc chân lý…. cho công chúng, cho dù chính bản thân mình có bị hiểu lầm, ghen ghét hay bị bách hại.
Ngôn sứ, hiểu theo nghĩa gốc và chung nhất, là một người được linh ứng, một kẻ có linh thị. Với sứ mệnh là kẻ đem tin, là sứ giả, là nhà diễn thuyết, hoặc là kẻ thay “người nào đó” và bởi lệnh của người đó thông tin một điều gì cho những người khác. Theo nghĩa hẹp, từ ngôn sứ chúng ta vẫn thường hiểu cách đơn giản, là kẻ nói nhân danh một vị thần thánh về hiện tại, về quá khứ, và đôi khi còn tiên đóan về tương lai. Thời nào cũng có các ngôn sứ, tuy sứ mạng và mục đích của họ đôi khi khác nhau. Xin miễn bàn đến các ngôn sứ giả, ở đây chỉ muốn nhấn mạnh đến chân dung của vị ngôn sứ chuyên lo việc cho Thiên Chúa. Sứ mệnh và số mệnh ngôn sứ thật luôn gắn liền với Lời Chúa. Lời Chúa luôn tra vấn và xoáy sâu vào lòng người qua môi miệng các ngôn sứ. Một khi đã chấp nhận thi hành nhiệm vụ khó khăn nhưng vô cùng cao cả này, các ngôn sứ phải thẳng thắn công bố sứ điệp của Thiên Chúa cách trang trọng và công khai, đồng thời phải giảng giải những lời sấm, những sự huyền bí của thiên nhiên, những triết lý, hay những tư tưởng hoặc chân lý…. cho công chúng, cho dù chính bản thân mình có bị hiểu lầm, ghen ghét hay bị bách hại. Mang trong mình sứ điệp và mệnh lệnh của Thiên Chúa, mỗi kitô hữu đang sống trong lòng mẹ Giáo hội, chúng ta cũng phải làm tốt nhiệm vụ cao cả đã lãnh nhận khi chúng ta được chịu phép thánh tẩy, theo cách thức riêng và theo ơn gọi riêng của mình. Chúng ta phải làm ngôn sứ cho Chúa ngay trong hòan cảnh sống của chúng ta lúc này và bây giờ. Ngôn sứ bởi bản chất, bởi ơn gọi và bởi sứ mạng không bao giờ có quyền đóng khung một mình. Thiên Chúa muốn và thực sự đã nói với con người qua trung gian là các ngôn sứ, và chính ngôn sứ là kẻ được sai đi làm điều gì đó cho con dân của Thiên Chúa. Được làm ngôn sứ là do Thiên Chúa muốn, ơn ngôn sứ là do Chúa ban. Ý định của Thiên Chúa từ đời đời đã muốn dành riêng một số người sẽ nhận lãnh trách nhiệm này. Kinh thánh đã ghi lại việc Thiên Chúa kêu gọi và tuyển chọn một số người làm ngôn sứ cho Ngài (Giêrêmia là một ví dụ điển hình). Bài đọc I (Gr 1,4-5.17-19) cho chúng ta biết đôi chút về ơn gọi của ngôn sứ Giêrêmia. “Còn ngươi, ngươi hãy thắt lưng. Hãy chỗi dậy! Hãy nói với chúng tất cả những gì Ta sẽ truyền cho ngươi. Trước mặt chúng, ngươi đừng run sợ; nếu không, trước mặt chúng, chính Ta sẽ làm cho ngươi run sợ luôn” (Gr 1,17). Không ai có thể tự cho mình tước hiệu “ngôn sứ” vì đó là hồng ân và là lệnh truyền từ Thiên Chúa. Người ta không thể thành ngôn sứ bởi sáng kiến của chính mình, nhưng bởi sáng kiến của Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa dẫn đưa ngôn sứ vào một liên hệ mật thiết, riêng tư với Ngài. Tước hiệu “Nabi” được hiểu cách chung là “kẻ được kêu gọi” đã nói lên điều đó. Điều con người muốn cũng không được, cái con người lẩn trốn cũng không xong. Một Môsê xin cho khỏi mang gánh nặng Chúa trao, một Amos xin Chúa tha cho tuyên sấm, một Giêrêmia bị dụ dỗ và bị uy hiếp (x. Gr 20,7)... nhưng các ngài đã “phải” trở thành ngôn sứ để lo việc cho Giavê Thiên Chúa. Đứng trước sứ mạng quá cao cả mà bản tính nhân lọai lại vụng về, các ngôn sứ e sợ sẽ không kham nổi, nên hầu hết thay vì chấp nhận liền sau tiếng gọi thì cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và kẻ được gọi đã xảy ra. Các ngôn sứ biện lẽ, thóai thác… nhưng Thiên Chúa lại làm cho họ vững lòng, Ngài hứa sẽ ở cùng họ. Cũng như nhiều ngôn sứ khác khi thấy trước những nguy hiểm khi làm việc cho Chúa, Gêrêmia khiêm tốn thưa với Ngài: … Aha! Lạy Đức Chúa Giavê, này tôi đâu có biết nói, vì tôi chỉ là một đứa trẻ” (Gr 1,6). Ngôn sứ lưỡng lự sự biện lẽ (phản đối) từ khước: Thiên Chúa xác quyết ứng viên và Ngài loại bỏ sự biện lẽ của ứng viên: “Đừng nói tôi chỉ là một đứa trẻ”. Một khi Thiên Chúa đã hứa, Ngài luôn trung thành. Thiên Chúa sẽ gìn giữ, bênh vực, tiếp sức và chúc lành cho các ngôn sứ để họ có thể làm tròn nhiệm vụ. Thiên Chúa ở với ngôn sứ để chiến đấu cùng với họ. Vì thế sau khi đã đối thoại và nhận ra ý Thiên Chúa muốn mình làm ngôn sứ cho Ngài thì các ngôn sứ đã chấp nhận, bởi vì biết và tin rằng mình luôn ở trong bàn tay của Đấng toàn năng, Đấng luôn luôn đồng hành với mình. Lấy trường hợp Giêrêmia làm ví dụ ta sẽ rõ đường lối của Thiên Chúa. Ngài đã trấn an ông: “Vì hễ ta sai ngươi đến với ai, ngươi sẽ nói” (Gr1,7) bù lại Thiên Chúa hứa sự trợ giúp: “Trước mặt chúng, ngươi đừng sợ vì có ta ở với ngươi để trợ giúp ngươi” (Gr 1,8). Ngôn sứ là người nói lời Thiên Chúa. Đôi khi trái ý mọi người, bị ghét, bị chống đối nhưng đó mới là ngôn sứ phải đến. Ngôn sứ đích thực không bao giờ được làm hay nói theo ý của riêng mình. Trong ơn gọi ngôn sứ không có một ước muốn riêng tư, nhưng là một sự lựa chọn của Thiên Chúa. Không phải là sứ mạng vui đùa, nhưng là sứ mạng rao giảng và làm trung gian, không phải là một địa vị để ra lệnh nhưng là một sự phụng vụ Thiên Chúa và Lời của Ngài. Lời ngôn sứ sẽ là sức mạnh nối kết con người với Thiên chúa và với nhau. Các ngôn sứ phải chuyển tải ý của Chúa cho người khác trong từng hòan cảnh cụ thể và ngay lúc Chúa sai họ đến. Thiên Chúa có thể làm được tất cả. Không gì là không thể được đối với Thiên Chúa…. nhưng nhiều lần trong Kinh Thánh, chúng ta thấy là Thiên Chúa không muốn hành động một mình, dù Ngài làm được mọi chuyện. Thiên Chúa cần sự cộng tác của con người. Ý thức được mình chỉ là những sứ giả của Giavê, các ngôn sứ – đặc biệt những ngôn sứ mà chúng ta gọi là những ngôn sứ văn tự – coi bổn phận của mình là để loan báo lời của Giavê mang trong người các vị và để làm cho ý Chúa được mọi người biết. Nhưng trước khi ghi lại thì trước hết thực hiện bằng cách rao giảng bằng miệng. Ngôn sứ là những người được Thiên Chúa sai đi nói Lời Chúa cho dân. Sứ mệnh và số mệnh ngôn sứ luôn gắn liền với Lời Chúa. Lời Chúa luôn tra vấn và xoáy sâu vào lòng người, những ai thành tâm muốn hối cải để nhận lãnh ơn cứu độ. Vai trò ngôn sứ bắt đầu từ niềm tin nhưng lại kết thúc và nhờ vào động lực của lòng mến. Để chu tòan sứ mạng tiên tri đòi phải vâng phục và yêu mến Thiên Chúa. Nhờ có đức mến thì sẽ làm được tất cả, ngược lại làm được tất cả mà không có đức mến thì cũng kể như không, mọi sự sẽ không có giá trị trước mặt Chúa. Bài đọc II (1 Cr 12,31 – 13,13) diễn tả nội dung đó. Quả vậy, đức mến là mẹ các nhân đức khác. Bỏ qua thành kiến, sự hiểu biết của trí khôn nhân loại để tin và yêu mến Chúa, Ngài sẽ có cách giúp cho ơn gọi ngôn sứ đi đến cùng. Khinh thường, ghen tị, thách thức Chúa thì không thể làm trọn sứ mệnh ngôn sứ được. Thánh Phaolô đã khuyến cáo các tín hữu thành Côrintô: “Trong các ân huệ của Thiên Chúa, anh em cứ tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất. Nhưng đây tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả”(1Cr12, 31a). Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến (1 Cr 13,13). Ngôn sứ được sai đến từng miền, từng hòan cảnh và từng giai đọan của đất nước và xã hội. Ơn gọi ngôn sứ nhằm tới những con người cụ thể, trong những thời gian và không gian nhất định. Vì thế, ngôn sứ là người nhân danh Đức Chúa, dấn thân vào lịch sử của thời đại mình và, do đó, chúng ta phải đọc và hiểu sấm ngôn sứ ngôn trong bối cảnh chính trị, văn hoá, cũng như địa dư, kinh tế và tôn giáo nhất định. Sứ điệp của Thiên Chúa qua trung gian các ngôn sứ của thời đại chúng ta sẽ khác với các thời đại khác. Các sứ điệp của Thiên Chúa và ân huệ của Ngài ban thì vẫn có đó nhưng đón nhận hay không lại tùy người nhận lãnh sứ điệp ấy. Khi rao giảng cho đám đông ô hợp, các ngôn sứ luôn phải đối diện với hai thái độ hoặc là đón nhận hoặc chối từ. Như các vị ngôn sứ khác, khi thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình, một đàng Chúa Giêsu cũng nhận được sự ủng hộ, nhưng đàng khác Người cũng bị ngược đãi. Trong bài tin mừng hôm nay (Lc 4,21-30), những người từ chối Chúa Giêsu lại chính là người nhà, thân thiết, làng xóm láng ghiềng của Người. Bởi vì ngôn sứ bị từ chối tại chính quê hương mình là chuyện bình thường. Lẽ thông thường, người ta thường đánh giá một người tùy theo những gì thấy được ở bên ngoài, chứ không thấy được giá trị thâm sâu ở bên trong. Và càng là người thân quen với vị ngôn sứ, thì càng khó đánh giá đúng đắn vị ngôn sứ ấy, vì các ngôn sứ thường mặc lấy những dáng vẻ bên ngoài rất bình thường, và cũng thường có quan niệm rất khác với người đương thời. Chính vì thế, các ngôn sứ ít được người đồng thời và đồng hương biết được giá trị con người mình, thậm chí còn bị coi thường, khi rẻ, kết án. Vì thế, Đức Giêsu nói: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình”(Lc 4, 24). Như các vị ngôn sứ khác, Chúa Giêsu cũng vừa được ca ngợi vừa bị ngược đãi khi thi hành sứ mạng ngôn sứ của mình. Điều lạ ở đây là không những chỉ những người trong gia tộc, dòng họ hay xóm làng nhưng từ quan niệm của rất nhiều người Dothái thời đó: “Từ Na-da-rét làm sao có cái gì hay được?” (x. Ga 1, 46), khiến chúng ta cảm thấy đau xót bởi sự cố chấp từ chối đón nhận ân huệ của Thiên Chúa. Kết: Dù sống giữa bao hiểm nguy và ngộ nhận, Giáo hội không bao giờ lùi bước trước vai trò ngôn sứ. Lời ngôn sứ sẽ là sức mạnh nối kết con người với Thiên chúa và với nhau. Quả thế, “sống giữa nhân loại, Kitô giáo có sứ mệnh tạo lập tình thân hữu, sự hiểu biết, cổ võ, thăng tiến, nâng cao tinh thần. Đó là sứ mệnh cứu độ” (x. ĐGH Gioan Phaolô II: Zenit 06/01/2004). Nhờ bí tích Rửa tội, mỗi người Kitô hữu chúng ta cũng được tham dự vào sứ mạng ngôn sứ, chúng ta có cảm thấy vinh dự và có trách nhiệm khi làm việc này không? Sống đời ngôn sứ chúng ta sẽ phải trả giá bằng chính “mạng sống” của mình vì thế cần can đảm, thẳng thắn, chân thành chuyển tải trung thực sứ điệp của Thiên Chúa. Xin cho mọi Kitô hữu chúng ta luôn sẵn sàng chấp nhận thử thách, chống đối và cả bách hại nữa để luôn giới thiệu Đức Kitô Phục Sinh cho mọi người trên khắp cùng trái đất. Với đức tin mạnh mẽ và lòng mến chân thành thể hiện bằng các việc lành và thực thi giới luật yêu thương mà Chúa Giêsu và thánh Phaolô đòi hỏi, nhất quyết chúng ta sẽ thành công.
Mai Thi |