Lượt xem: 2,866 - Ngày đăng: (26/10/2013)

Bộ Giáo lý Đức tin lên tiếng về việc rước lễ của người ly dị tái hôn

Ngày 24 Tháng Mười vừa qua, Đức TGM Gerhard Ludwig Muller, Bộ Trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã cho phổ biến một bài viết của ngài trên tờ L'Osservatore Romano về việc rước lễ của các người Công Giáo ly dị và tái hôn dân sự. Sau đây là nguyên văn bài báo đó dựa vào bản tiếng Anh do Đài Phát Thanh Vatican phổ biến. 

Chứng từ sức mạnh ơn thánh

Vấn đề liên quan tới các tín hữu đã bước vào cuộc kết hợp dân sự mới sau khi ly dị là vấn đề không mới lạ gì. Giáo Hội luôn nghiêm túc xem sét vấn đề này với quan điểm muốn giúp đỡ những người thấy mình rơi vào trạng huống này. Hôn nhân là một bí tích ảnh hưởng hết sức sâu xa tới con người trong các hoàn cảnh bản thân, xã hội và lịch sử của họ. Vì con số những người bị ảnh hưởng trong các quốc gia có truyền thống Kitô Giáo cổ xưa càng ngày càng gia tăng, nên vấn đề mục vụ này đã mang lấy nhiều chiều kích có ý nghĩa. Hiện nay, cả các tín hữu vững chắc cũng nghiêm túc tự hỏi: há Giáo Hội lại không thể cho phép người ly dị và tái hôn được chịu các bí tích dưới một số điều kiện nào đó hay sao? Bàn tay Giáo Hội bị trói cứng vĩnh viễn hay sao trong vấn đề này? Các thần học gia có chịu thực sự thăm dò mọi hệ luận và hậu quả chăng?

Các câu hỏi trên cần được khảo sát một cách nhất quán với tín lý Công Giáo về hôn nhân. Một phương thức mục vụ có trách nhiệm luôn tiền giả định một nền thần học biết dâng “lý trí và ý chí hoàn toàn tuân phục Thiên Chúa mạc khải, tự do chấp nhận chân lý do Người mạc khải” (Dei Verbum, 5). Muốn làm cho tín lý chân chính của Giáo Hội được khả niệm, ta phải bắt đầu với lời Chúa trong Sách Thánh, được trình bày trong Truyền Thống Giáo Hội và được giải thích một cách trói buộc bởi huấn quyền.

Chứng từ Sách Thánh

Trực tiếp tìm nơi Cựu Ước các câu trả lời cho vấn nạn của ta không phải là không có khó khăn, vì vào thời đó, hôn nhân chưa được coi là một bí tích. Ấy thế nhưng lời Chúa trong Cựu Ước cũng quan trọng đối với ta vì Chúa Giêsu vốn thuộc truyền thống này và từng dựa vào nó để biện luận. Trong Mười Giới Răn, ta thấy giới răn này “ngươi không được phạm tội ngoại tình” (Xh 20:14), nhưng ở chỗ khác, ly dị lại được trình bày như một khả hữu. Theo Đệ Nhị Luật 24:1-4, Môsê dạy rằng người đàn ông có thể trao cho vợ mình một giấy ly hôn và đuổi nàng ra khỏi nhà mình, nếu nàng không được chàng sủng ái nữa. Sau đó, cả vợ lẫn chồng có thể tái hôn. Song song với việc chấp nhận ly dị này, Cựu Ước cũng đã nói lên một số dè dặt về phương diện này. Việc so sánh của các tiên tri giữa giao ước Thiên Chúa với Israel và sợi dây hôn phối bao hàm không những lý tưởng đơn hôn, mà còn cả lý tưởng bất khả tiêu nữa. Tiên tri Malaki nói về điều này rất rõ: “Đừng bất trung với người vợ tuổi thanh xuân của ngươi... là người ngươi vốn ký giao ước với” (Mk 2:14-15). 

Trước hết, chính cuộc tranh luận với người Biệt Phái đã giúp Chúa Giêsu cơ hội bàn về chủ đề này. Người minh nhiên tách mình ra khỏi thói quen ly dị của Cựu Ước, một thói quen mà Môsê đã cho phép chỉ vì con người “có tâm hồn chai đá”, còn Người, Người nhấn mạnh tới ý chí nguyên thủy của Thiên Chúa: “từ nguyên thủy tạo thành, Thiên Chúa đã dựng nên họ có nam có nữ. Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mình và ... cả hai sẽ nên một thân xác. Cho nên, sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, con người không được phân ly” (Mc 10:5-9; xem Mt 19:4-9; Lc 16:18). Giáo Hội Công Giáo luôn đặt tín lý và thực hành của mình trên căn bản các lời vừa kể của Chúa Giêsu liên quan đến tính bất khả tiêu của hôn nhân. Sợi dây nội tại liên kết hai người phối ngẫu lại với nhau do chính Thiên Chúa bện nên. Nó chỉ một thực tại phát xuất từ Thiên Chúa và do đó không còn tùy thuộc xử lý của con người nữa. 

Ngày nay, một số nhà chú giải chấp nhận quan điểm cho rằng vào thời đại các Tông Đồ, những lời của Chúa Giêsu trên đây đã được áp dụng một cách mềm dẻo nào đó: nổi tiếng nhất là trường hợp porneia/dâm bôn (unchastity) (xem Mt 5:32; 19:9) và trường hợp phân ly giữa một người phối ngẫu Kitô Giáo và một người phối ngẫu không Kitô Giáo (xem 1Cor 7:12-15). Câu dâm bôn này từng là đầu đề cho một cuộc tranh luận gắt gao giữa các nhà chú giải ngay từ buổi đầu. Nhiều người cho rằng nó không chỉ bất cứ trường hợp ngoại lệ nào đối với tính bất khả tiêu của hôn nhân, mà chỉ có ý nói tới những kết hợp hôn nhân bất thành. Tuy nhiên, điều rõ ràng là Giáo Hội không thể xây dựng tín lý và thực hành của mình trên các giả thuyết vẫn còn bị khoa chú giải tranh cãi. Giáo Hội phải bám lấy giáo huấn rõ ràng của Chúa Kitô. 

Thánh Phaolô trình bày việc cấm ly dị như là ý muốn minh nhiên của Chúa Kitô: “Với người đã kết hôn, tôi truyền, không phải tôi mà là Chúa, rằng người vợ không được lìa khỏi chồng (mà nếu lìa khỏi chồng, thì phải ở độc thân hoặc nếu không phải hòa giải với chồng) và người chồng cũng không được ly dị vợ” (1Cor 7:10-11). Đồng thời, ngài lại cho phép, bằng chính thẩm quyền của ngài, rằng một người không phải là Kitô hữu được phép phân ly với người phối ngẫu đã trở lại Kitô hữu. Trong trường hợp này, người Kitô hữu “không bị trói buộc” phải ở độc thân (1Cor 7:12-16). Dựa trên đoạn văn này, Giáo Hội đã hiểu ra rằng chỉ cuộc hôn nhân giữa một người đàn ông đã rửa tội và một người đàn bà đã rửa tội mới là một bí tích đúng nghĩa, và chỉ trong trường hợp này, tính bất khả tiêu vô điều kiện mới được áp dụng. Hôn nhân của những người không rửa tội quả cũng có định hướng bất khả tiêu, nhưng dưới một số hoàn cảnh, như vì một lợi ích cao hơn chẳng hạn, nó có thể bị hủy tiêu (đặc ân Thánh Phaolô). Như thế, ở đây, ta không xử lý với một ngoại lệ đối với giáo huấn của Chúa. Tính bất khả tiêu của hôn nhân bí tích, nghĩa là cuộc hôn nhân diễn ra bên trong mầu nhiệm Chúa Kitô, vẫn luôn được bảo đảm. 

Đối với cái nhìn bí tích về hôn nhân, căn bản Thánh Kinh có tầm quan trọng hơn chính là Thư gửi tín hữu Êphêsô, trong đó, ta đọc rằng “Các ông chồng, các ông hãy yêu thương vợ mình như Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội và hiến mình cho Giáo Hội” (Eph 5:25). Và ngay sau đó, Thánh Tông Đồ viết thêm: “chính vì lý do này, người đàn ông sẽ rời cha mẹ mình và gắn bó với vợ và cả hai sẽ nên một thân xác. Mầu nhiệm này thật sâu xa, và tôi nói thế để ám chỉ Chúa Kitô và Giáo Hội” (Eph 5:31-32). Hôn nhân Kitô Giáo là dấu chỉ hữu hiệu giao ước giữa Chúa Kitô và Giáo Hội. Vì nó chỉ và thông truyền ơn thánh của giao ước này, nên hôn nhân giữa những ngưởi đã chịu phép rửa là một bí tích. 

Chứng từ Thánh Truyền

Các Giáo Phụ và các Công Đồng cho ta nhiều chứng từ quan trọng liên quan tới cung cách diễn biến của chủ trương Giáo Hội. Đối với các Giáo Phụ, các huấn chỉ của Thánh Kinh về chủ đề này đều có tính trói buộc. Chúng bác bỏ luật ly dị của nhà nước, coi như không đi đôi với giáo huấn của Chúa Kitô. Giáo Hội thời các Giáo Phụ bác bỏ ly dị và tái hôn, và Giáo Hội làm thế vì vâng phục Tin Mừng. Về vấn đề này, các Giáo Phụ đều đồng thanh nhất trí. 

Thời các Giáo Phụ, các phần tử ly dị trong cộng đồng Kitô Giáo nếu tái hôn dân sự sẽ không được chịu các bí tích nữa dù đã đền tội một thời gian. Tuy nhiên, một số bản văn giáo phụ dường như muốn ngụ ý rằng các lạm dụng không luôn luôn bị sửa trị cách nghiêm ngặt vì đôi khi vẫn có những giải pháp mục vụ cho các trường hợp tranh tối tranh sáng rất hiếm hoi. 

Sau này, tại nhiều vùng, còn có những thoả hiệp lớn hơn, nhất là vì có sự liên lập mỗi ngày mỗi gia tăng giữa Giáo Hội và nhà nước. Ở Phương Đông, sự khai triển này tiếp tục xẩy ra, và đặc biệt từ lúc có sự phân ly với Tòa Phêrô, khai triển này càng ngày càng tiến tới một thực hành cởi mở hơn. Trong các Giáo Hội Chính Thống ngày nay, có rất nhiều cơ sở để ly dị, mà phần lớn được biện minh bởi nguyên tắc nhiệm cục (oikonomia), hay khoan dung mục vụ đối với các vụ khó khăn cá thể; các cơ sở này mở đường cho những cuộc hôn nhân thứ hai hay thứ ba sau một việc đền tội nào đó. Người ta không thể hòa giải tập tục này với thánh ý Thiên Chúa, nếu dựa vào lời minh nhiên của Chúa Giêsu nói về tính bất khả tiêu của hôn nhân. Nhưng nó đại biểu cho một vấn nạn đại kết mà ta không nên coi thường. 

Ở Phương Tây, cuộc cải tổ của Đức GH Grêgôriô chống lại các khuynh hướng lỏng lẻo này và đưa ra một thúc đẩy mới mẻ nhằm hướng ta trở về với lối hiểu nguyên thủy của Thánh Kinh và của các Giáo Phụ. Giáo Hội Công Giáo bảo vệ tính bất khả tiêu tuyệt đối của hôn nhân dù với hy sinh và đau khổ lớn lao. Cuộc ly giáo của “Giáo Hội Nước Anh” đối với Người Kế Vị Thánh Phêrô đã diễn ra không phải vì khác biệt tín lý, mà do Đức Giáo Hoàng, vì vâng nghe lời dạy của Chúa Giêsu, đã không thể chấp nhận lời yêu cầu của Vua Henry VIII xin tiêu hủy cuộc hôn nhân của ông ta. 

Công Đồng Trent củng cố tín lý bất khả tiêu của hôn nhân bí tích và đưa ra giải thích sau: tính bất khả tiêu này phù hợp với giáo huấn của Tin Mừng (xem DH 1807). Đôi khi có người cho rằng trên thực tế Giáo Hội khoan dung đối với tập tục của Phương Đông. Nhưng nghĩ như vậy là sai. Các nhà giáo luật học luôn luôn nhắc đến nó như một lạm dụng. Và có đủ bằng chứng cho thấy các nhóm Kitô hữu Chính Thống khi trở thành người Công Giáo luôn phải minh nhiên nhìn nhận sự bất khả hữu của các cuộc hôn nhân thứ hai hay thứ ba. 

Công Đồng Vatican II, trong Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et Spes về “Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay” đã trình bày một tín lý thần học và linh đạo rất sâu sắc về hôn nhân. Nó đề cao tính bất khả tiêu của hôn nhân, một cách rõ ràng và tách biệt. Hôn nhân được hiểu là một hiệp thông toàn diện sự sống và tình yêu, thân xác và tinh thần, giữa một người đàn ông và một người đàn bà tự hiến mình cho nhau và tiếp nhận nhau như những con người. Qua hành vi đích thân tự ý ưng thuận hỗ tương, một định chế lâu bền, do Thiên Chúa xếp đặt đã được tạo ra, nhằm thiện ích của các người phối ngẫu và con cái họ, chứ không còn tùy thuộc ý muốn thất thường có tính nhân bản nữa: “Là một trao hiến hỗ tương giữa hai con người, sự kết hợp thân mật này và thiện ích của con cái đặt để một lòng trung thành toàn diện lên các người phối ngẫu và biện hộ cho sự nên một không thể nào phá vỡ giữa họ với nhau” (số 48). Qua bí tích, Thiên Chúa ban ơn đặc biệt cho các người phối ngẫu: “Vì như Thiên Chúa thuở xưa tự làm cho mình hiện diện với dân Người qua một giao ước yêu thương và trung thành thế nào, thì nay Đấng Cứu Rỗi con người và Phu Quân của Giáo Hội cũng đi vào cuộc sống vợ chồng Kitô hữu qua bí tích hôn phối như thế. Người ở với họ mãi mãi sau đó để như Người yêu thương Giáo Hội và phó mình vì Giáo Hội thế nào, vợ chồng cũng yêu thương nhau với một lòng trung thành vĩnh viễn qua việc hiến mình cho nhau như vậy”. Qua bí tích hôn phối, tính bất khả tiêu của hôn nhân nhận được ý nghĩa mới và sâu sắc hơn: nó trở thành hình ảnh tình yêu bền vững của Thiên Chúa dành cho dân Người và lòng trung thành bất phản hồi của Chúa Kitô dành cho Giáo Hội của Người. 

Chỉ có thể hiểu và sống hôn nhân trong bối cảnh mầu nhiệm Chúa Kitô. Nếu hôn nhân bị thế tục hóa hay bị coi như một thực tại chỉ có tính tự nhiên, đặc tính bí tích của nó sẽ bị che mờ. Hôn nhân bí tích thuộc trật tự ơn thánh, nó được sát nhập vào hiệp thông yêu thương dứt khoát giữa Chúa Kitô và Giáo Hội của Người. Các Kitô hữu được mời gọi sống hôn nhân của họ trong chân trời cánh chung, chờ mong nước Thiên Chúa đến nơi Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể của Thiên Chúa. 

Chứng từ huấn quyền hiện nay

Tông Huấn Familiaris Consortio, do Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 22 tháng Mười Một năm 1981 sau Thượng Hội Đồng Giám Mục về gia đình Kitô hữu trong thế giới ngày nay, và có tầm quan trọng rất căn để từ ngày đó, đã củng cố giáo huấn tín lý của Giáo Hội về hôn nhân một cách đầy nhấn mạnh. Nhưng nó cũng tỏ nhiều quan tâm mục vụ đối với các tín hữu ly dị và tái hôn dân sự là những người vẫn còn bị trói buộc bởi cuộc hôn nhân thành sự trong Giáo Hội. Đức Giáo Hoàng biểu lộ một quan tâm và thông cảm cao độ. Đoạn 84 về “những người ly dị đã tái hôn” có những qui định chủ yếu như sau: 1. Vì lòng yêu sự thật, các mục tử buộc “phải thực thi một biện phân cẩn trọng về hoàn cảnh”. Không phải điều gì và ai ai cũng phải được lượng giá cùng một cách như nhau. 2. Các mục tử và các cộng đồng giáo xứ buộc phải hỗ trợ các tín hữu bị vướng vào các hoàn cảnh này, bằng một “tình yêu chăm chú”. Họ vẫn thuộc về Giáo Hội, họ vẫn có quyền được chăm sóc mục vụ và họ nên tham dự vào đời sống của Giáo Hội. 3. Ấy thế nhưng, họ không thể được tiếp nhận Thánh Thể. Có hai lý do cho việc này: a) “tình trạng và điều kiện sống của họ mâu thuẫn một cách khách quan đối với sự kết hợp yêu thương giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, một kết hợp vốn được Thánh Thể biểu hiệu và làm cho hữu hiệu” b) “nếu những người này được tiếp nhận Thánh Thể, các tín hữu sẽ bị hướng dẫn sai lầm và lẫn lộn về giáo huấn của Giáo Hội đối với tính bất khả tiêu của hôn nhân”. Việc hòa giải qua bí tích xưng tội, một việc mở đường cho việc tiếp nhận Thánh Thể, chỉ có thể ban cấp trong trường hợp có sự ăn năn hối tiếc việc đã xẩy ra và sự “sẵn sàng tiếp nhận một lối sống không còn mâu thuẫn với tính bất khả tiêu của hôn nhân nữa”. Nói một cách cụ thể, điều này có nghĩa: nếu vì các lý do nghiêm túc, như để dưỡng dục con cái, mà cuộc kết hợp mới không thể nào tiêu hủy được, thì hai người kết ước này phải “cam kết sống tiết dục hoàn toàn”. 4. Vì các lý do bí tích và thần học nội tại chứ không do các áp lực luật lệ, các giáo sĩ minh nhiên bị cấm không được “cử hành các nghi lễ bất cứ thuộc loại nào” cho người ly dị tái hôn dân sự, bao lâu cuộc hôn nhân thứ nhất thành sự theo bí tích vẫn tồn tại. 

Tuyên bố của Bộ Giáo Lý Đức Tin ngày 14 tháng Chín năm 1994 về việc rước lễ của các tín hữu ly dị và tái hôn nhấn mạnh rằng thực hành của Giáo Hội trong vấn đề này “không thể bị thay đổi vì các tình thế khác nhau” (số 5). Tuyên bố cũng minh xác rằng các tín hữu liên hệ không thể tự ý lên rước lễ dựa trên chính lương tâm họ: “Nếu họ phán đoán họ có thể làm như thế, thì các mục tử và các cha giải tội... có nhiệm vụ nghiêm trọng phải khuyên nhủ họ rằng một phán đoán lương tâm như thế mâu thuẫn với giáo huấn của Giáo Hội một cách công khai” (số 6). Nếu vẫn còn hoài nghi về tính thành sự của cuộc hôn nhân thất bại, thì các hoài nghi này phải được các tòa án hôn phối có năng quyền xem sét (xem số 9). Điều hết sức quan trọng vẫn là “vì đức ái phải làm mọi sự có thể làm được để củng cố trong tình yêu Chúa Kitô và Giáo Hội các tín hữu trong các hoàn cảnh hôn nhân bất bình thường. Chỉ có thế họ mới có khả năng tiếp nhận được trọn vẹn sứ điệp của hôn nhân Kitô Giáo và với đức tin, chịu đựng được các khốn khó do hoàn cảnh họ gây ra. Trong hành động mục vụ, ta phải làm mọi sự có thể làm được để bảo đảm rằng điều này được hiểu không phải là vấn đề kỳ thị mà chỉ là vấn đề tuyệt đối trung thành với ý muốn của Chúa Kitô, Đấng đã tái lập và ủy thác cho ta một lần nữa tính bất khả tiêu của hôn nhân như là một tặng phẩm của Đấng Hóa Công” (số 10). 

Trong Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng, tựa là Sacramentum Caritatis, ban hành ngày 22 tháng Hai năm 2007, Đức Bênêđíctô XVI tóm lược công trình của Thượng Hội Đồng Giám Mục về chủ đề Thánh Thể và sau đó khai triển thêm. Ở số 29, ngài nói tới tình thế của các tín hữu ly dị và tái hôn. Đối với cả Đức Bênêđíctô XVI, đây là một “vấn đề mục vụ phức tạp và làm người ta bối rối”. Ngài xác nhận rằng “Dựa trên Thánh Kinh (xem Mc 10:2-12), tập tục của Giáo Hội là không cho người ly dị và tái hôn được chịu các bí tích”, tuy nhiên, cùng một lúc, ngài thúc giục các mục tử dành “quan tâm đặc biệt” cho những người liên hệ: với uớc mong họ được “sống cuộc sống Kitô hữu càng trọn vẹn bao nhiêu càng hay, qua việc thường xuyên tham dự Thánh Lễ, dù không được rước lễ, lắng nghe Lời Chúa, thờ lạy Mình Thánh Chúa, cầu nguyện, tham dự sinh hoạt cộng đoàn, làm việc đền tội, và cam kết giáo dục con cái”. Nếu vẫn còn hoài nghi tính thành sự của cuộc hôn nhân thất bại, thì những hoài nghi này cần được các tòa án có năng quyền xem sét. Não trạng thời nay phần đông chống lại cái hiểu Kitô Giáo về hôn nhân, về tính bất khả tiêu và việc sẵn sàng đón nhận con cái. Vì nhiều Kitô hữu bị ảnh hưởng bởi não trạng này, nên các cuộc hôn nhân hiện nay rất có thể bất thành nhiều hơn trước đây, vì thiếu ý muốn kết hôn theo giáo huấn Công Giáo, và vì ít được xã hội hóa trong môi trường đức tin. Bởi thế, việc lượng định tính thành sự của hôn nhân là điều quan trọng và có khả năng giúp giải quyết nhiều vấn nạn. Khi việc tuyên bố hôn nhân vô hiệu không thể chứng minh được, thì, theo tập tục đã có và đã được chấp thuận trong Giáo Hội, điều kiện để được giải tội và rước lễ là cặp này phải sống với nhau như “bạn bè, như anh chị em”. Cần phải tránh việc chúc lành cho các cuộc kết hợp bất bình thường, “kẻo lẫn lộn sẽ phát sinh nơi các tín hữu liên quan tới giá trị của hôn nhân”. Chúc lành cho một liên hệ vốn mâu thuẫn với thánh ý Thiên Chúa tự nó đã là một mâu thuẫn ngay trong ngôn từ rồi (bene-dictio có nghĩa được Chúa thừa nhận). 

Trong bài giảng lễ tại Cuộc Gặp Gỡ Các Gia Đình Trên Thế Giới Lần Thứ Bẩy ở Milan ngày 3 tháng Sáu năm 2012, một lần nữa, Đức Bênêđíctô XVI lại có dịp nói tới vấn đề đau lòng này: “Tôi cũng muốn ngỏ mấy lời với các tín hữu, dù nhất trí với các giáo huấn của Giáo Hội về gia đình, nhưng từng đau đớn phải trải nghiệm sự tan vỡ và phân ly. Tôi muốn anh chị em biết rằng Đức Giáo Hoàng và Giáo Hội hỗ trợ anh chị em trong cuộc chiến đấu của anh chị em. Tôi khuyến khích anh chị em tiếp tục hợp nhất với cộng đoàn của anh chị em, và tôi tha thiết hy vọng rằng các giáo phận của anh chị em sẽ khai triển nhiều sáng kiến thích đáng để chào đón và đồng hành với anh chị em”. 

Thượng Hội Đồng Giám Mục gần đây nhất về chủ đề “Tân phúc âm hóa để thông truyền đức tin Kitô Giáo” (7-28 tháng Mười, 2012) một lần nữa cũng đã đề cập tới hoàn cảnh các tín hữu sau một thất bại trong mối liên hệ hôn nhân (không phải hôn nhân thất bại, vì như một bí tích, hôn nhân vẫn còn đấy) đã bước vào một kết hợp mới và sống với nhau không có sợi dây hôn phối bí tích. Trong thông điệp kết thúc, các nghị phụ ngỏ lời với những người này như sau: “Với mọi người họ, chúng tôi muốn nói rằng tình yêu Thiên Chúa không bỏ rơi bất cứ ai, Giáo Hội cũng vẫn yêu thương họ, Giáo Hội là căn nhà chào đón mọi người, họ vẫn là các chi thể của Giáo Hội cho dù họ không thể lãnh nhận bí tích giải tội và Thánh Thể. Ước mong các cộng đoàn Công Giáo chào đón mọi người hiện đang sống trong các hoàn cảnh như thế và hỗ trợ những người hiện đang trên đường hồi tâm và hoà giải”. 

Còn 1 kỳ

Vũ Văn An

Hội Ngộ Di Dân Tại Miền Nam Lần Thứ XII

Thứ Hai, 01/05/2017, tại thánh đường giáo xứ Phú Trung – Tổng giáo phận Sài Gòn đã diễn ra ngày hội ngộ gặp mặt đồng hương giáo phận Thanh Hóa lần thứ XII.