Lượt xem: 2,786 - Ngày đăng: (28/10/2013)

Bộ Giáo lý Đức tin lên tiếng về việc rước lễ của người ly dị tái hôn (2)

| Bộ Giáo lý Đức tin lên tiếng về việc rước lễ của người ly dị tái hôn (1)

Các quan sát dựa trên nhân học và thần học bí tích

Tín lý bất khả tiêu hôn nhân thường bị môi trường thế tục hóa tỏ ra không hiểu. Nơi nào mất đi những tầm nhìn thông suốt của đức tin Kitô Giáo, nơi ấy việc chỉ làm con cái Giáo Hội cho có lệ theo qui ước sẽ không đủ để nâng đỡ các quyết định chính yếu trong đời sống nữa; nó cũng không thể cung cấp cho ta một thế đứng vững chắc lúc gặp khủng hoảng hôn nhân, cũng như lúc gặp khủng hoảng linh mục và tu dòng. Nhiều người đặt câu hỏi: làm thế nào tôi có thể gắn bó với một người đàn bà hay một người đàn ông suốt cả đời được? Ai có thể nói cho hay trong mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi năm sau, cuộc hôn nhân của tôi sẽ ra sao không? Liệu có thể có một sợi dây vĩnh viễn cột tôi với một người nào khác chăng? Rất nhiều liên hệ hôn nhân đang lung lay hiện nay càng tăng cường não trạng hoài nghi của giới trẻ liên quan tới các chọn lựa dứt khoát trong đời. 

Mặt khác, lý tưởng trung thành giữa một người đàn ông và một người đàn bà, vốn xây dựng trên trật tự tạo thế, chưa hề mất đi tính hấp dẫn của nó chút nào, như thấy rõ qua các cuộc thăm dò ý kiến giới trẻ gần đây. Phần lớn những người trẻ này mong muốn một liên hệ ổn định và bền vững, phù hợp với bản chất thiêng liêng và luân lý của con người nhân bản. Hơn nữa, ta đừng quên giá trị nhân học của hôn nhân bất khả tiêu: nó kéo các người phối ngẫu ra khỏi tính tùy hứng và ách bạo chúa của xúc cảm và tính khí thất thường. Nó giúp họ sống thoát các khó khăn bản thân và vượt qua các trải nghiệm đau đớn. Trên hết, nó bảo vệ con cái, là những người chịu nhiều thiệt thòi nhất trong các tan vỡ hôn nhân. 

Tình yêu không phải chỉ là xúc cảm hay bản năng. Tự bản chất, nó là tự hiến. Trong tình yêu phu phụ, hai con người nói với nhau một cách đầy ý thức và cố ý rằng: chỉ có anh hay chỉ có em mãi mãi mà thôi. Lời của Chúa Giêsu: “Điều Thiên Chúa đã kết hợp” tương xứng với lời hai người phối ngẫu đoan hứa: “Em nhận anh làm chồng... Anh nhận em làm vợ... Em (anh) sẽ yêu thương, quí mến và tôn trọng anh (em) bao lâu em (anh) còn sống, cho tới lúc cái chết phân rẽ chúng ta”. 

Linh mục chúc lành cho giao ước mà hai người phối ngẫu vừa đóng ấn với nhau trước mặt Thiên Chúa. Nếu ai đó hoài nghi không biết dây hôn phối có tính hữu thể (ontological) hay không, họ hãy học biết từ lời Thiên Chúa sau đây: “Người là Đấng, từ khởi thủy, đã dựng nên họ có nam có nữ, rồi phán: vì lý do này, người đàn ông sẽ rời cha mẹ mình mà kết hợp với vợ, và cả hai sẽ trở nên một thân xác. Do đó, họ không còn là hai mà là một thân xác” (Mt 19:4-6). 

Đối với các Kitô hữu, hôn nhân của những người đã rửa tội, nghĩa là được sáp nhập vào Nhiệm Thể Chúa Kitô, đều có đặc điểm bí tích và do đó tượng trưng cho một thực tại siêu nhiên. Một vấn nạn mục vụ trầm trọng đang phát sinh từ sự kiện này: nhiều người ngày nay phán đoán hôn nhân Kitô Giáo hoàn toàn bằng tiêu chuẩn trần thế và thực dụng. Những người suy nghĩ theo “tinh thần thế gian” (1Cor 2:12) không thể nào hiểu nổi tính bí tích của hôn nhân. Giáo Hội không thể đáp ứng việc người ta càng ngày càng không hiểu tính thánh thiện của hôn nhân bằng cách thay đổi một cách thực dụng điều giả thiết vốn không thể nào tránh được, mà chỉ bằng cách tín thác nơi “Thần Khí vốn phát xuất từ Thiên Chúa để có thể hiểu được những ơn phúc do Thiên Chúa ban cho ta” (1 Cor 2:12). Hôn nhân bí tích là một chứng từ về sức mạnh của ơn thánh; nó biến đổi con người và chuẩn bị cho toàn thể Giáo Hội bước vào thành thánh, thành Giêrusalem mới, một Giáo Hội được chuẩn bị “như nàng dâu được trang điểm cho phu quân” (Kh 21:2). Tin Mừng về sự thánh thiện của hôn nhân phải được công bố với một sự trung thực có tính tiên tri. Khi đã thích ứng với tinh thần thời đại, vị tiên tri rã rời sẽ chỉ đi tìm sự cứu rỗi cho riêng mình chứ không phải sự cứu rỗi cho thế giới nơi Chúa Giêsu Kitô. Trung thành với lời ưng thuận khi kết hôn là dấu chỉ tiên tri của ơn cứu rỗi mà Thiên Chúa muốn ban cho thế giới. “Ai có khả năng lãnh hội điều này, hãy lãnh hội nó” (Mt 19:12). Qua ơn thánh bí tích, tình yêu phu phụ được thanh tẩy, tăng cường và thăng hoa. “Được đóng ấn bằng lòng trung thành hỗ tương và được thánh hóa trước hết bằng bí tích của Chúa Kitô, tình yêu này sẽ mãi mãi chân thực một cách bền bỉ trong thân xác và trong tâm trí, trong những ngày sáng sủa và trong những ngày đen tối. Nó sẽ không bao giờ bị xúc phạm bởi ngoại tình hay ly dị” (Gaudium et Spes, 49). Nhờ sức mạnh của bí tích hôn nhân, hai người phối ngẫu dự phần vào tình yêu dứt khoát và bất phản hồi của Thiên Chúa. Do đó, họ có thể trở thành chứng nhân cho tình yêu trung thành của Thiên Chúa, nhưng họ phải không ngừng nuôi dưỡng tình yêu của họ qua việc sống cuộc sống của mình bằng đức tin và bằng tình yêu. 

Như mọi mục tử đều biết, ai cũng nhìn nhận rằng sẽ có những tình thế trong đó việc chung sống của vợ chồng, trên thực tế, không còn khả hữu nữa vì nhiều lý do thôi thúc, như bạo lực thể lý hay tâm lý. Trong những trường hợp khó khăn như thế, Giáo Hội luôn cho phép các người phối ngẫu được ly thân và không còn phải sống với nhau nữa. Tuy nhiên, điều cần phải nhớ là: dây hôn phối của một cuộc hôn nhân thành sự vẫn nguyên vẹn trước mặt Thiên Chúa, và các bên cá thể không được tự do kết ước một hôn nhân mới, bao lâu người phối ngẫu kia còn sống. Do đó, các mục tử và các cộng đoàn phải cố gắng cổ vũ con đường hòa giải cả trong các trường hợp này nữa hay nếu không thể làm được điều này, thì giúp các người liên hệ đối diện với tình thế khó khăn của họ bằng đức tin. 

Các quan sát dựa trên thần học luân lý

Người ta thường gợi ý cho rằng những người ly dị tái hôn nên được phép quyết định cho chính họ, theo lương tâm họ, liệu có nên bước lên rước lễ hay không. Luận điểm này, đặt căn bản trên ý niệm còn đang tranh cãi về “lương tâm”, đã bị văn kiện của Bộ Giáo Lý Đức Tin năm 1994 bác bỏ. Lẽ dĩ nhiên, mỗi lần tham dự Thánh Lễ, các tín hữu đều phải xét xem liệu mình có thể rước lễ được không, hay một tội trọng chưa xưng có thể gây trở ngại. Đồng thời, họ có bổn phận phải huấn luyện lương tâm và giúp nó phù hợp với chân lý. Khi làm như thế, họ cũng lắng nghe Huấn Quyền Giáo Hội, là thẩm quyền giúp họ “khỏi đi chệch ra ngoài sự thật về thiện ích của con người, nhưng thay vào đó, nhất là trong các vấn đề khó khăn hơn, giúp họ biết đạt tới sự thật một cách chắc chắn và sống trong sự thật ấy” (Veritatis Splendor, 64). Nếu người ly dị tái hôn xác tín một cách chủ quan trong lương tâm họ rằng cuộc hôn nhân trước bất thành, thì điều này phải được chứng minh một cách khách quan bởi các tòa án hôn phối có năng quyền. Hôn nhân không phải chỉ là mối liên hệ của hai người với Thiên Chúa, nó còn là một thực tại của Giáo Hội nữa, một bí tích, và các cá nhân liên hệ không có quyền quyết định tính thành sự của nó, mà đúng hơn quyền ấy dành cho Giáo Hội, định chế mà các cá nhân được sáp nhập vào nhờ đức tin và phép rửa. “Nếu cuộc hôn nhân trước của hai tín hữu ly dị và tái hôn đã thành sự, thì cuộc kết hợp mới của họ, dù dưới bất cứ hoàn cảnh nào, cũng không thể được coi là hợp pháp, và do đó, việc lãnh nhận các bí tích là bất khả hữu một cách nội tại. Lương tâm cá nhân bị trói buộc vào qui định này không có ngoại lệ nào cả” (Đức HY Joseph Ratzinger, “The Pastoral approach to marriage must be founded on truth” L’Osservatore Romano, Bản Tiếng Anh, 7 tháng Mười Một năm 2011, p. 4). 

Giáo huấn về epikeia, theo đó, một luật lệ rất có thể có giá trị phổ quát, nhưng không luôn luôn được áp dụng vào một số tình huống cụ thể nào đó của con người, cũng không thể được nại tới ở đây vì trong trường hợp bất khả tiêu của hôn nhân bí tích, ta đương đầu với thiên luật là luật nằm ngoài quyền xử lý của Giáo Hội. Tuy nhiên, như đã thấy trong trường hợp đặc ân Thánh Phaolô, Giáo Hội quả có thẩm quyền minh xác các điều kiện cần được thỏa mãn để một hôn nhân bất khả tiêu có thể xẩy ra, như Chúa Giêsu truyền dạy. Dựa trên căn bản này, Giáo Hội đã thiết lập ra các ngăn trở đối với hôn nhân, nhìn nhận các cơ sở để tuyên bố vô hiệu và khai triển ra diễn trình chi tiết để xem sét các cơ sở này. 

Một lý lẽ nữa đã được đưa ta để biện hộ việc cho phép các người ly dị tái hôn được chịu các bí tích là lòng thương xót. Xét vì chính Chúa Giêsu từng tỏ tình liên đới với những người đau khổ và từng tuôn tràn tình yêu thương xót trên họ, nên lòng thương xót được kể là một phẩm tính biệt loại của người môn đệ đích thực. Điều này đúng, nhưng trệch đích nhắm khi được sử dụng như một luận chứng trong lãnh vực thần học bí tích. Trọn nhiệm cục bí tích là công trình của lòng thương xót Chúa; nó không thể giản đơn bị gạt qua một bên bằng một việc nại tới chính lòng thương xót ấy. Việc nại tới lòng thương xót nào lầm lẫn một cách khách quan cũng đều có nguy cơ tầm thường hóa hình ảnh Thiên Chúa, qua việc ngụ ý cho rằng Thiên Chúa không thể làm gì khác ngoài việc tha thứ. Mầu nhiệm Thiên Chúa bao gồm không những lòng thương xót của Người mà còn cả sự thánh thiện và công lý của Người nữa. Nếu ta dám dẹp bỏ các đặc điểm vừa kể của Thiên Chúa và từ khước không coi tội là việc nghiêm trọng, thì nhiên hậu ngay cả việc đem lòng thương xót của Chúa tới con người cũng là điều không thể có. Chúa Giêsu tỏ lòng cảm thương vô bờ đối với người đàn bà ngoại tình, nhưng Người vẫn nói với chị: “Con hãy đi và đừng phạm tội nữa” (Ga 8:11). Lòng thương xót của Thiên Chúa không miễn chước ta khỏi tuân theo các giới răn của Người hay các giới luật của Giáo Hội. Đúng hơn, nó ban cho ta ơn thánh và sức mạnh cần thiết để chu toàn các giới răn và các giới luật này, để ta vực ta dậy sau mỗi lần té ngã, và để ta sống cuộc sống viên mãn theo đúng hình ảnh Cha ta ở trên trời.

Chăm sóc mục vụ

Cho dù không thể cho phép các người ly dị tái hôn được chịu các bí tích, vì bản chất nội tại của họ, nhưng chính vì thế ta càng có nhiệm vụ phải tỏ quan tâm mục vụ đối với các thành viên tín hữu này, để hướng dẫn họ cách rõ ràng tới những điều dạy bảo của thần học mặc khải và huấn quyền. Con đường được Giáo Hội chỉ vẽ không dễ dàng chút nào đối với những người liên hệ. Ấy thế nhưng họ nên biết và cảm nhận điều này: như một cộng đồng cứu rỗi, Giáo Hội luôn sánh bước với họ trong hành trình của họ. Bao lâu các bên cố gắng hiểu biết tập tục của Giáo Hội và hạn chế không rước lễ, họ đã làm chứng cách riêng cho tính bất khả tiêu của hôn nhân vậy. 

Điều rõ ràng là không nên rút gọn việc chăm sóc các người ly dị tái hôn vào việc rước lễ mà thôi. Nó bao hàm một phương thức mục vụ có phạm vi bao quát hơn nhiều; phương thức này cố gắng đánh giá đúng các tình huống khác nhau. Điều quan trọng là phải hiểu ra rằng ngoài việc chịu lễ ra, còn có những phương cách khác để hiệp thông với Chúa. Người ta có thể tiến gần Thiên Chúa bằng cách hướng về Người bằng đức tin, đức cậy và đức mến, bằng việc thống hối và cầu nguyện. Thiên Chúa có thể ban sự gần gũi và ơn cứu rỗi cho những người đang đi trên những nẻo đường khác, thậm chí cả lúc họ rơi vào những tình huống sống mâu thuẫn nữa. Như các văn kiện gần đây của huấn quyền vốn nhấn mạnh, các mục tử và các cộng đoàn Kitô Giáo được kêu gọi chào đón một cách cởi mở và thành thực những người đang sống trong các tình huống bất bình thường, hỗ trợ họ một cách thiện cảm và đầy giúp đỡ, và giúp họ ý thức được tình yêu của Đấng Chăn Chiên Lành. Nếu chăm sóc mục vụ bắt nguồn từ sự thật và tình yêu, chắc chắn nó sẽ khám phá được nhiều nẻo đường và phương thức đúng đắn một cách không ngừng mới mẻ.


Vũ Văn An

Hội Ngộ Di Dân Tại Miền Nam Lần Thứ XII

Thứ Hai, 01/05/2017, tại thánh đường giáo xứ Phú Trung – Tổng giáo phận Sài Gòn đã diễn ra ngày hội ngộ gặp mặt đồng hương giáo phận Thanh Hóa lần thứ XII.